SERVICE.htm
















|
Giáo dục Mỹ vẫn dẫn đầu |
|
Thách thức lớn đặt ra cho
mỗi quốc gia là một mặt phải đáp ứng được nguyện vọng của người dân,
mặt khác thỏa măn được yêu cầu của thị trường lao động. Nước nào
không vượt qua được thách thức đó sẽ phải đối mặt với t́nh trạng
chảy máu chất xám.
Một trong những thế mạnh của hệ thống giáo dục bậc
cao Mỹ là mô h́nh phát triển tự do. Sau khi đạo luật Morrill 1862 ra
đời, cho phép phân bổ đất đai của liên bang cho các tiểu bang để xây
dựng trường sở, th́ các bang không chỉ thành lập trường đại học, mà
c̣n cả các trường cao đẳng, dạy nghề - một số trường chỉ thực hiện
các khóa đào tạo 2 năm.
Không hề có một chiếc lược quốc gia thống nhất nào,
nhưng hầu hết các trường cao đẳng và đại học công lập đều đi theo
một mô h́nh - mức học phí ở trong khả năng chi trả của số đông, vị
trí địa lư đắc địa và được cả chính phủ liên bang và chính quyền
bang hỗ trợ kinh phí.
Chất lượng giáo dục của Mỹ đă được minh chứng bằng
việc sau sự cố 11/9, số lượng học viên nước ngoài xin nhập học tại
các trường của Mỹ sụt giảm, nhưng chỉ không lâu sau đó, Mỹ vẫn là
lựa chọn của nhiều sinh viên quốc tế. Hiện nay, nền giáo dục bậc cao
của Mỹ là một ngành kinh doanh trị giá hơn 200 tỷ USD, với gần 18
triệu sinh viên đang học tập tại khoảng 4.000 trường đại học và cao
đẳng công lập và tư thục.
Trong khi đó, ở nhiều nước khác, nền giáo dục đại
học phát triển dưới sự chỉ đạo và kiểm soát
của nhà nước. Ở các nước như Liên bang Xô viết cũ, Trung Quốc,
và hầu hết các nước châu Á và châu Mỹ La tinh, chính phủ nắm quyền
kiểm soát hệ thống trường đại học và cao đẳng. Cho đến nay, mô h́nh
này vẫn tồn tại ở nhiều nước.
Về cơ bản, hệ thống giáo dục kiểu này thường kém
nhạy bén trong việc thích ứng với những thay đối về nhu cầu của
người học, trong khi ngay cả người dân ở vùng sâu vùng xa - thông
qua các phương tiện truyền thông và Internet - đă bắt đầu mở mang
nhận thức về cuộc sống của những người của thu nhập cao hơn, được
sống trong điều kiện vật chất tốt hơn. Nhiều người xem giáo dục như
là một lối thoát để cải thiện chất lượng cuộc sống.
Khi chứng kiến các đồng hương đi du học về, mang
theo tấm bằng của Mỹ hoặc châu Âu, và có được những công việc tốt
nhất, họ bắt đầu đ̣i hỏi nền giáo dục trong nước phải cải tiến chất
lượng, trong khi nhà nước luôn thiếu nguồn lực để thực hiện. Kết quả
là khoảng cách giữa nhu cầu và thực tế ngày càng lớn.
Để theo kịp Mỹ, các nước ở châu Âu, châu Á, châu
Phi và Mỹ Latinh rất ủng hộ sự phát triển của hệ thống trường đại
học tư lập. Tuy nhiên, nhiều trường kiểu này đang bị nghi vấn về
tính hợp pháp.
Tại bang Chhattisgarh ở miền Trung Ấn Độ, mô h́nh
trường tư thục đang nở rộ, nhưng theo tờ Tribune của địa phương th́
đa số là “trường đại học trên danh nghĩa”, c̣n thực chất thậm chí
không có trường lớp tử tế.
Giảng viên cũng là một vấn đề, khi ở nhiều nước,
giáo sư được trả lương bèo bọt và các trường phải dựa vào đội ngũ
trợ giảng, giáo viên kư hợp đồng ngắn hạn và làm việc bán thời gian.
Để tồn tại hệ thống trường lớp kém chất lượng sẽ
phản tác dụng v́ hầu hết sinh viên đều không chấp nhận việc ra
trường với một tấm bằng giá trị thấp. Trong thời đại của thương hiệu
toàn cầu, mọi người đều muốn sở hữu loại quần áo, xe cộ và cả bằng
cấp có “mác đẹp”.
Ở Trung Quốc, sinh viên của các trường “hạng 2”
(second-tier) thường chấp nhận trả thêm tiền để trên bằng tốt nghiệp
của họ ghi tên một trường nào đó danh tiếng tốt hơn, và sẽ khiếu
kiện ầm ĩ nếu nhà trường không thực hiện đúng cam kết này.
Để tồn tại, nhiều trường đại học đang phát triển
theo mô h́nh của Mỹ. Điều này đồng nghĩa với việc phải tăng học,
tăng số lượng tuyển sinh (kể cả sinh viên nước ngoài du học tự túc)
và kêu gọi tiền tài trợ. Tuy nhiên, vấn đề là vẫn chưa đủ tiền để có
thể xây dựng một trường đại học chất lượng tốt.
Ở nhiều nước, các giáo sư không được hưởng địa vị,
hay mức thu nhập, đủ để có thể thu hút được nhân tài. Một số nước có
đội ngũ kỹ sư, hay nhà khoa học, đông đảo, nhưng như thế không có
nghĩa là có nhiều người giỏi. Trong khi đó, nhiều nước khác đang mở
rộng bộ máy hành chính để tạo công ăn việc làm cho những người đă
tốt nghiệp nhưng chưa có việc làm - đây thực sự là một thảm họa.
Ngày nay, cơ chế thị trường tự do đang xung đột
với việc nhà nước sở hữu, hoặc kiểm soát, hệ thống trường đại học.
Thách thức lớn đặt ra cho mỗi quốc gia là phải đáp ứng được không
chỉ nguyện vọng của người dân, mà c̣n cả yêu cầu của thị trường lao
động. Nước nào không vượt qua được thách thức đó sẽ phải đối mặt với
t́nh trạng chảy máu chất xám. Ngay cả Mỹ cũng không phải là trường
hợp ngoại lệ.
Trước đây, Mỹ phụ thuộc vào việc nhiều sinh viên
nước ngoài đến học tập - nhất là trong các ngành khoa học, toán và
công nghệ - rồi sau đó ở lại làm việc luôn. Mỹ cũng áp dụng chế độ
đăi ngộ đặc biệt đối với những người nhập cư có tŕnh độ chuyên môn
cao.
Tuy nhiên, hiện nay, khi nhiều nước bắt đầu phát
triển về kinh tế, họ có đủ khả năng giữ chân nhân tài và thậm chí
c̣n thu hút thêm nhiều giáo sư của Mỹ. Do đó, Mỹ ngày càng phải dựa
vào nguồn nhân lực của chính ḿnh để đào tạo đội ngũ kỹ sư, giáo
viên, nhà khoa học và chuyên gia.
Thực tế là năm ngoái, toàn bộ 11 trường đại học và
cao đẳng của tiểu bang Maryland chỉ “xuất xưởng” được 46 giáo viên
toán và khoa học hệ trung học. Hay một thực tế khác là tỷ lệ nghiên
cứu sinh khoa học người nước ngoài tại các trường đại học Mỹ hiện đă
lên tới gần 60%.
Nước Mỹ cũng phải nỗ lực
gấp đôi, đặc biệt là đầu tư nhiều hơn cho việc nâng cao chất lượng
giáo dục bậc phổ thông, và cả đại học. Trong cuộc cạnh tranh toàn
cầu, không có chỗ cho sự tự măn, ngay cả với Mỹ - nước có hệ thống
trường công lập và tư thục đa dạng, đă thành công hơn hầu hết các
nước khác trong việc đối phó với những thách thức trong nền giáo dục
đại học.
Lê
Hà
Theo
Newsweek |
|
|
Trung tâm nghiên cứu âm thanh
ánh sáng Đông Dương,
18 Bàu Cát, P.14, Q. Tân B́nh, TPHCM, ĐT: (08)8426752, (08)2449119,
(08)2116885, hotline: 0908455425, fax: (08) 8426752,
www.tlsoundandlight.com,
amthanhanhsangdongduong@gmail.com
