SERVICE.htm
















|
Kết luận của Phó Thủ tướng,
Bộ
trưởng Nguyễn Thiện Nhân
tại Hội nghị toàn quốc về chất lượng giáo dục đại học, ngày 05 tháng
01 năm 2008 |
|
|
Số tư
liệu: |
1007/TB-BGDĐT |
|
Ngày ban
hành: |
13-02-2008 |
|
Tệp đính
kèm: |
1007TB130208.doc
|
Ngày 05 tháng 01 năm 2008, Hội nghị toàn quốc về chất lượng giáo dục
đại học đã được tổ chức tại Trường Đại học Sư phạm Kỹ thuật thành
phố Hồ Chí Minh dưới sự chủ trì của Phó Thủ tướng, Bộ trưởng Bộ Giáo
dục và Đào tạo Nguyễn Thiện Nhân. Hội nghị có sự tham gia của 420
đại biểu đến từ các bộ, ngành, cơ quan Trung ương, các tổ chức quốc
tế, các trường đại học, cao đẳng và các cơ quan thông tin, truyền
thông.
Tại Hội nghị, sau khi nghe báo cáo do Thứ trưởng thường trực Bành
Tiến Long trình bày và các phát biểu, thảo luận về chất lượng giáo
dục đại học, Phó Thủ tướng, Bộ trưởng Nguyễn Thiện Nhân đã có các
kết luận như sau:
1. Đây là Hội nghị toàn quốc đầu tiên về chất lượng giáo dục đại học,
được Bộ Giáo dục và Đào tạo tổ chức sau hơn 1 năm tích cực chuẩn bị.
Hội nghị đã được nghe các ý kiến tham luận rất thẳng thắn và có giá
trị của nhiều đại biểu từ các bộ, ngành, tổ chức quốc tế và các
trường đại học, cao đẳng. Báo cáo về chất lượng giáo dục đại học của
Bộ Giáo dục và Đào tạo do Thứ trưởng thường trực Bành Tiến Long
trình bày khá cụ thể và chi tiết đã đánh giá được thực trạng và đề
ra phương hướng nâng cao chất lượng giáo dục đại học của nước ta.
2. Trong số nhiều yếu tố chi phối chất lượng giáo dục đại học hiện
nay, cần đánh giá đúng nguyên nhân và đề ra những giải pháp then
chốt nhằm nâng cao chất lượng giáo dục đại học như sau:
a) Nguyên nhân dẫn đến chất lượng giáo dục đại học chưa đạt yêu cầu
trong những năm vừa qua là:
- Về tổng thể, chúng ta chưa coi chất lượng giáo dục là mục tiêu cao
nhất cần phải quản lý. Chất lượng giáo dục chưa đáp ứng yêu cầu của
người sử dụng, ngành giáo dục chưa đòi hỏi người sử dụng tham gia
vào quá trình đào tạo; nhiều ngành đào tạo còn chưa có chương trình
khung; từ đó dẫn đến việc chúng ta thiếu công cụ, thiếu chế tài đối
với giáo dục đại học. Cục Khảo thí và Kiểm định chất lượng giáo dục
đã được thành lập từ năm 2003 và triển khai một số công việc theo
chức năng, nhiệm vụ; nhưng hằng năm, Bộ Giáo dục và Đào tạo chưa yêu
cầu các trường nộp báo cáo tự đánh giá về chất lượng giáo dục của
trường; Bộ chưa có chế tài đối với các đơn vị chưa tham gia các hoạt
động kiểm định chất lượng. Điều này đã dẫn đến tình trạng các trường
không cần quan tâm đến chất lượng giáo dục vẫn được nhận kinh phí
của Nhà nước.
- Ngành giáo dục chưa tạo ra động lực để các trường quyết tâm nâng
cao chất lượng giáo dục và đào tạo. Trên thực tế, mặc dù Nhà nước
yêu cầu, các doanh nghiệp đòi hỏi, nhưng các trường vẫn chưa có
những chuyển biến tích cực về công tác đảm bảo chất lượng giáo dục.
Hằng năm, các trường nhận kinh phí của Nhà nước, nhưng chất lượng
giáo dục chưa tương xứng với kinh phí mà các trường được nhận. Sắp
tới, phải thiết kế một cơ chế mới, có chính sách khuyến khích để các
trường quan tâm đến chất lượng. Vì nếu không quan tâm đến chất lượng
thì các trường sẽ không thể tồn tại. Khi mà xã hội, cơ quan quản lý
nhà nước quan tâm thì nhà trường càng phải quan tâm đến chất lượng
giáo dục. Trường nào càng quan tâm đến chất lượng giáo dục thì càng
được hưởng lợi nhiều hơn.
b) Các giải pháp:
* Một số giải pháp buộc phải làm để đảm bảo chất lượng:
- Bộ Giáo dục và Đào tạo và các trường cần rà soát, sớm công bố tiêu
chuẩn thành lập trường đại học, trong đó phải có các chuẩn đầu ra
của quá trình đào tạo (những kiến thức, kỹ năng, thái độ, hành vi
cần đạt được của sinh viên). Phấn đấu đến tháng
12/2008, tất cả các trường đại học phải công bố chuẩn đầu ra của quá
trình đào tạo, nếu không công bố thì phải có chế tài về tuyển
sinh.
- Hình thành cơ chế rà soát và giúp các trường nâng chuẩn đào tạo.
Giao Thứ trưởng thường trực Bành Tiến Long chỉ đạo Vụ Đại học và Sau
Đại học, Cục Khảo thí và Kiểm định chất lượng giáo dục sớm xây dựng
tài liệu và tập huấn cho tất cả các trường về việc xây dựng chuẩn và
công bố chuẩn đào tạo. Các trường chủ động phối hợp với nhau, có thể
hình thành các Hội đồng trưởng khoa, Hội đồng các hiệu trưởng của
từng ngành để rà soát các chuẩn đào tạo, sau đó thống nhất và cho
công bố. Những ngành nào đã có chương trình khung thì rà soát và
công bố lại; những ngành nào chưa có thì công bố chương trình khung
mới. Công việc này cần tiến hành một cách chắc chắn, có lộ trình sao
cho chậm nhất đến hết năm 2009, tất cả các trường đều phải có chương
trình khung. Sau này, tùy từng trường, sẽ có 2 loại chương trình:
chương trình ứng dụng và chương trình nghiên cứu, với mức độ đảm bảo
về kinh phí và học phí khác nhau.
- Về giảng viên, Bộ Giáo dục và Đào tạo đã và
đang tiếp tục ban hành quy chế giảng viên và chuẩn giảng viên cho
từng vị trí công tác. Tất cả
giảng viên đại học đều phải có năng lực giảng dạy, nghiên cứu và
phải được đánh giá qua sinh viên và đồng nghiệp về trình độ chuyên
môn, kỹ năng sư phạm, năng lực quản lý giáo dục… Tiến tới,
tăng quyền tự chủ cho Hiệu trưởng; Hiệu trưởng có quyền quyết định
trả lương cho giảng viên, để có thể giữ được cán bộ và thực hiện các
giải pháp nâng cao chất lượng giảng dạy.
- Về chỉ tiêu tuyển sinh, tới đây, ngoài việc phải tính đến mối liên
quan giữa chất lượng đầu vào và tỷ lệ giảng viên thì việc giao chỉ
tiêu tuyển sinh phải gắn liền với chất lượng đào tạo và công tác
kiểm định chất lượng giáo dục. Nếu trong số các trường có cùng điều
kiện về cơ sở vật chất, giảng viên như nhau thì trường nào đã được
kiểm định chất lượng sẽ được tăng chỉ tiêu tuyển sinh.
- Về trang thiết bị cho các trường, phải có lộ trình từng bước để áp
dụng rộng rãi internet và hình thành hệ thống thư viện điện tử.
Trong giáo dục và đào tạo nói chung và nhất là đào tạo đại học hiện
nay, không thể để tình trạng thiếu thông tin.
- Thực hiện đánh giá chất lượng giáo dục tiến tới kiểm định chất
lượng giáo dục theo quy trình đã công bố của Bộ Giáo dục và Đào tạo,
gắn với quá trình hội nhập; phải tham khảo kinh nghiệm và hội nhập
với các nước ASEAN và trên thế giới. Việc hội nhập sẽ tạo áp lực
buộc ta phải đẩy nhanh hơn tiến trình đánh giá và kiểm định chất
lượng giáo dục.
* Một số giải pháp khuyến khích nâng cao chất lượng giáo dục:
- Đối với những trường công lập, việc nhận kinh phí đào tạo của Nhà
nước phải gắn với chất lượng. Giao Vụ Kế hoạch – Tài chính nghiên
cứu, tham mưu cho lãnh đạo Bộ Giáo dục và Đào tạo. Ví dụ, trong 3
năm đầu Nhà nước phân bổ kinh phí theo đầu vào; từ năm thứ 4, sẽ căn
cứ số sinh viên tốt nghiệp có việc làm để phân bổ kinh phí…
- Xây dựng khung học phí cho các trường đại học:
trường nào đã được kiểm định chất lượng thì mới được xây dựng khung
học phí cao. Như vậy, trường nào càng được kiểm định sớm thì
càng có lợi.
Việc hỗ trợ kinh phí nghiên cứu khoa học, hỗ trợ hợp tác quốc tế
cũng căn cứ vào chất lượng giáo dục của trường, thứ tự xếp hạng của
trường và ưu tiên trường đã được kiểm định chất lượng giáo dục.
- Tiếp tục nghiên cứu, đề xuất các chính sách khác liên quan đến tự
chủ của nhà trường: như việc trả lương gắn với trách nhiệm và đóng
góp của giảng viên…
- Khuyến khích các trường đại học ký kết hợp đồng đào tạo và tổ chức
đào tạo theo đơn đặt hàng. Trường nào ký được các hợp đồng đào tạo
với các nhà sử dụng sẽ được Nhà nước hỗ trợ kinh phí. Sắp tới, trong
cuộc họp về đào tạo theo nhu cầu của xã hội, Chính phủ sẽ đề nghị
các bộ, ngành giới thiệu một số công ty tiên phong cam kết nhận sinh
viên ra trường, hoặc nếu nhận được sinh viên đạt yêu cầu thì sẽ trả
cho trường đại học một khoản tiền nhất định, hoặc cung cấp học bổng
cho sinh viên trong quá trình đào tạo như một số công ty đã tiến
hành làm trong thời gian gần đây .
- Về quản lý nhà nước:
+ Hiện
tại, Bộ Giáo dục và Đào tạo chỉ quản lý khoảng 1/3 trong tổng số
trường đại học, cao đẳng;
2/3 số trường còn lại trực thuộc các địa phương và các bộ, ngành
khác. Bộ Giáo dục và Đào tạo sẽ làm việc với các Bộ, ngành và
UBND các tỉnh/ thành phố trực thuộc Trung ương đang quản lý các
trường đại học, cao đẳng để thống nhất việc quản lý, đảm bảo triển
khai có hiệu quả công tác quản lý chất lượng ở các trường.
+
Sớm triển khai các chương trình đào tạo theo nhu cầu của xã hội ở
các bộ, ngành chủ lực. Trước mắt sẽ bàn về vấn đề này đối với
các ngành
công nghệ thông tin – truyền thông, ngành
đóng tàu và ngành du lịch.
+ Công bố chính sách xã hội hóa giáo dục,
khuyến khích các doanh nghiệp, các tổng công ty mở trường hoặc liên
kết mở trường; Nhà nước có ưu đãi về vốn và mặt bằng. Mô hình
này nếu được mở rộng sẽ rất thuận lợi cho việc đào tạo theo nhu cầu
của xã hội vì chính các đơn vị này sẽ tham gia xây dựng chương trình
đào tạo và tiếp nhận sản phẩm đào tạo.
+ Các đơn vị chức năng của Bộ Giáo dục và Đào tạo sớm dành thời gian
nghiên cứu các chương trình đào tạo chuẩn của Cộng đồng châu Âu và
đề xuất với lãnh đạo Bộ về việc Việt Nam có thể tham gia đến đâu.
Phấn đấu từ sau năm 2010, nước ta sẽ tham gia từng bước vào tiến
trình Bologna.
- Bộ Giáo dục và Đào tạo sẽ xây dựng một bảng tiến độ theo từng năm
từ nay đến năm 2015, trong đó thể hiện Bộ và các trường phải làm
những gì, đổi mới như thế nào. Sao cho đến năm
2010, những trường đại học không quan tâm đến chất lượng sẽ không có
chỗ đứng. Thực hiện theo tiến độ này sẽ buộc các trường quan
tâm đến chất lượng đào tạo.
- Bên cạnh đó, phải nâng cao chất lượng giáo dục phổ thông, đầu vào
của giáo dục đại học; Bộ Giáo dục và Đào tạo sẽ tiếp tục công bố
chuẩn giáo viên các cấp học; hướng dẫn đổi mới phương pháp dạy và
học phổ thông; đầu tư xây dựng cơ sở vật chất, chuẩn hóa, kiên cố
hóa trường lớp (với kinh phí khoảng 25.000 đến 27.000 tỷ đồng trong
năm 2008); về quản lý, từ năm 2008 các giáo viên sẽ tham gia đánh
giá tín nhiệm đối với hiệu trưởng các trường khối phổ thông…
- Về tiếng Anh: Đề án nâng cao hiệu quả sử dụng tiếng Anh đã được
soạn thảo với mục tiêu đề ra đến năm 2020 tất cả sinh viên tốt
nghiệp đại học phải sống và làm việc được trong môi trường tiếng Anh.
Muốn vậy, từ nay đến 2010,
Bộ và các trường phải chuẩn bị tốt khâu giảng viên, sau đó tập trung
nâng cao chất lượng dạy và học tiếng Anh. Bên cạnh các chương
trình tiên tiến đã được dạy bằng tiếng Anh, đối với các ngành Công
nghệ thông tin, Tài chính – Ngân hàng và Du lịch thì phấn đấu tới
năm 2015, sinh viên tốt nghiệp phải sử dụng thành thạo tiếng Anh
trong sinh hoạt và làm việc.
Trên đây là các kết luận của Phó Thủ tướng, Bộ trưởng Nguyễn Thiện
Nhân tại Hội nghị toàn quốc về chất lượng giáo dục đại học, ngày 05
tháng 01 năm 2008.
Bộ GD&ĐT trân trọng thông báo để các đơn vị trong ngành quán triệt
và thực hiện./.
|
|
|
Trung tâm nghiên cứu âm thanh
ánh sáng Đông Dương, 18 Bàu Cát, P.14, Q. Tân Bình, TPHCM, ĐT:
(08)8426752, (08)2449119, (08)2116885,
hotline: 0908455425, fax: (08) 8426752,
www.tlsoundandlight.com,
amthanhanhsangdongduong@gmail.com
